09:44 ICT Chủ nhật, 19/11/2017

DANH MỤC

Trang nhất » Tin Tức » Các Tin - Bài Khác

Hòa giải để tránh xung đột

Chủ nhật - 02/03/2014 07:42
Hòa giải để tránh xung đột
Trước những căng thẳng ở Đông Á gần đây, một số người cho rằng chiến tranh có thể xẩy ra tại châu Á và một lý do thường được nêu ra để giải thích khả năng ấy là tại đây các xung đột trong quá khứ không chỉ không được hòa giải mà còn được khơi dậy.
Có người còn so sánh tình trạng hiện tại của châu Á với bối cảnh châu Âu trong nửa đầu của thế kỷ 20 và ám chỉ rằng nếu những hiềm khích lịch sử không được giải quyết ổn thỏa, chúng có thể đẩy đưa châu lục này vào các cuộc chiến như châu Âu đã từng trải qua.
Nhưng chính kinh nghiệm hòa giải lịch sử của châu Âu sau Thế chiến thứ hai cũng làm nhiều người cho rằng nếu biết hòa giải các nghi kỵ do lịch sử để lại, các quốc gia Đông Á sẽ tránh được xung đột và có thể chung sống hòa bình.
Kinh nghiệm của châu Âu
Dù có nhiều yếu tố khác tác động nhưng có thể nói hiềm khích lịch sử – cùng với chủ nghĩa dân tộc cực đoan – là lý do chính đưa châu Âu và sau đó cả thế giới vào hai đại chiến đẫm máu trong nửa đầu thế kỷ 20. Chẳng hạn, ước tính có đến 9 triệu binh sỹ chết trong Thế chiến thứ nhất và Thế chiến thứ hai làm thiệt mạng 60 triệu người, trong đó có đến 40 triệu là dân thường.
Chứng kiến những hoang tàn, mất mát khủng khiếp do chiến tranh gây nên, sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc, thay vì tiếp tục hận thù lẫn nhau, giới lãnh đạo một số nước Tây Âu – như Thủ tướng đầu tiên của Cộng hòa Liên bang Đức Konrad Adenauer hay Bộ trưởng Ngoại giao Pháp Robert Schuman – đã có những sáng kiến nhằm dẹp bỏ những hiềm khích quá khứ và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan để cùng hợp tác, chung sống hòa bình.
Sự hòa giải đó – đặc biệt giữa Pháp và Đức – không chỉ giúp chấm dứt xung đột giữa các nước cựu thù mà còn đặt nền móng cho các quốc gia này xây dựng một Cộng đồng châu Âu (EC) hòa bình, phát triển trong suốt thời kỳ Chiến trạnh Lạnh.
Tinh thần hòa giải ấy cũng được các nước trong EC – được đổi thành Liên minh châu Âu (EU) từ năm 1992 – tiếp tục sau khi Liên xô và các nước cộng sản Đông Âu sụp đổ bằng việc đón nhận một số quốc gia cựu cộng sản vào tổ chức của mình.
Từ chỉ sáu nước ban đầu, giờ EU có đến 28 thành viên. Trong bài phát biểu tại Đại học Zurich, Thụy Sĩ vào năm 2011 – khi nhiều nước EU rơi vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng – Chủ tịch EU Herman Van Rompuy cho rằng dù đang đối diện với khủng hoảng, EU vẫn là khu vực phồn thịnh, an toàn và tự do nhất thế giới.
Đúng vậy, nếu dựa vào chỉ số kinh tế, dân chủ và tự do, không khu vực nào vượt qua khối EU. Hơn nữa, chiến tranh giữa các nước thành viên EU, chẳng hạn giữa Đức và Pháp hay Đức và Ba Lan – những quốc gia từng là thù địch của nhau – giờ được coi là chuyện không thể và không tưởng.
Vì có công đưa châu Âu từ ‘một lục địa của chiến tranh tới một châu lục của hòa bình’ EU đã được trao Giải Nobel hòa bình năm 2012. Việc Ủy ban Nobel trao cho EU giải thưởng ấy – đặc biệt vào thời điểm khối này đang khủng hoảng kinh tế – đã làm không ít người chỉ trích.
Tuy vậy, dù không đồng ý với một số chính sách của EU, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, khó ai có thể phủ nhận những đóng góp của tổ chức này trong việc mang lại thống nhất, tự do, dân chủ, hòa bình cho châu Âu.
Vì đã thực sự hòa giải lịch sử, lãnh đạo và người dân châu Âu giờ có thể thẳng thắn đối diện với lịch sử và cùng nhau kỷ niệm các cuộc chiến trong quá khứ. Chẳng hạn, Thủ tướng Đức Angela Merkel và Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã cùng tham dự một buổi lễ tưởng niệm các tử sỹ trong ngày đình chiến, được tổ chức tại đài tưởng niệm Arc de Triomphe, Paris, năm 2009.
Thủ tướng Đức Willy Brandt có cử chỉ hòa giải nổi tiếng ở Ba Lan năm 1970
Thủ tướng Đức Willy Brandt có cử chỉ hòa giải nổi tiếng ở Ba Lan năm 1970
Họ làm vậy vừa để tưởng nhớ hàng triệu binh sỹ, dân thường đã chết trong cuộc chiến và vừa để nhắc nhở chính họ và bao thế hệ sau đừng vì hận thù quá khứ hay vì chủ nghĩa dân tộc cực đoan mà đẩy đưa đất nước, châu lục của mình và cả thế giới vào một cuộc chiến tương tự.
Nói đến thiện chí hòa giải tại của các nước châu Âu thiết nghĩ cũng nên nhắc lại một vài cử chỉ rất nhỏ nhưng đầy ý nghĩa của một số lãnh đạo châu Âu. Trong số đó có việc Thủ tướng Đức Willy Brand – người được trao Giải Nobel Hòa bình 1971 – đã bất ngờ quỳ xuống trước đài tưởng niệm các nạn nhân phát-xít Đức ở thủ đô Ba Lan để tỏ lòng hối hận khi ông tới đây vào năm 1970. Trong cuốn Germany’s Foreign Policy of Reconciliation: From Enmity to Amity, ấn bản năm 2012, Lily Gardner Feldman còn nêu nhiều cử chỉ hòa giải khác của giới lãnh đạo Đức và Pháp.
Bài học cho châu Á?
Chính những kinh nghiệm – một kinh nghiệm phải trả bằng xương máu – của châu Âu đã làm giới nghiên cứu quan hệ quốc tế, trong đó có khá nhiều người Á châu, cho rằng châu Á cần có một sự hòa giải lịch sử tương tự để châu lục này tránh được những cuộc chiến như châu Âu đã trải qua.
Nhiều lý do khác nhau được đưa ra để giải thích tại sao Đông Á cần hòa giải lịch sử. Một trong số đó là sự hợp tác về kinh tế hay các diễn đàn khu vực đã không thể giúp các nước khu vực vượt qua được những nghi kỵ quá khứ.
Hơn nữa, gần đây các hiềm khích lịch sử không chỉ không được giải quyết êm thấm mà còn được khai quật, thậm chí được khuyến khích hay biến thành công cụ chính trị. Các cuộc khẩu chiến về quá khứ chiến tranh giữa Trung Quốc và Nhật trong thời gian qua là một ví dụ.
Hầu hết các nghiên cứu, bài viết về hòa giải lịch sử ở châu Á đều tập trung vào quan hệ Trung-Nhật và cho rằng nếu hai quốc gia này tiến hành hòa giải châu Á không những tránh được xung đột mà một sự hòa giải như vậy có tác động tích cực rất lớn đến hòa bình khu vực giống như sự hòa giải Pháp-Đức đối với châu Âu.
Chẳng hạn, trong một bài viết có tựa đề ‘Japan-China reconciliation is key to unified Asia’ được đăng trên tờ International Herald Tribune vào năm 2010, Kumiko Haba, một giáo sư về quan hệ quốc tế tại đại học Aoyama Gakuin ở Nhật, cho rằng sự hòa giải Trung-Nhật có thể giúp xây dựng một cộng đồng châu Á thống nhất, ổn định.
Không ai có thể phủ nhận được những thù hận lịch sử giữa Trung Quốc và Nhật và chuyện hai cường quốc khu vực này giải quyết quá khứ xung đột của mình hay không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tương lai khu vực.
Nhưng tại châu Á không chỉ có hai quốc gia ấy có những hiềm khích lịch sử chưa được giải quyết. Chẳng hạn, dù ít được chú ý, chuyện quá khứ vẫn là một vấn đề phức tạp trong quan hệ Việt-Trung.
Việc chính quyền Việt Nam không tổ chức kỷ niệm 35 năm chiến tranh biên giới và việc báo chí Trung Quốc khá im lặng về biến cố đó có thể tránh được căng thẳng trong quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh. Nhưng chính sự im lặng hay né tránh ấy cho thấy hai nước cộng sản láng giềng này chưa hoàn toàn giải quyết êm thấm những xung đột trong quá khứ.
Trong cuốn Inherited responsibility and historical reconciliation in East Asiađược xuất bản năm 2013, Jun-Hyeok Kwak và Melissa Nobles cho rằng để hòa giải lịch sử, trước hết các bên phải thẳng thắn đối diện với lịch sử và công tâm đánh giá – và nếu có lỗi, phải thừa nhận – trách nhiệm của mình trong lịch sử.
Quan hệ Trung-Nhật rơi vào tình trạng căng thẳng, đối đầu gần đây phần lớn vì hai bên bất đồng với nhau trong việc nhìn nhận, giải quyết lịch sử. Trong khi Bắc Kinh muôn Nhật phải xin lỗi về những ‘tội ác chiến tranh’ trước đây, Tokyo lại cho rằng họ đã nghiêm túc giải quyết chuyện quá khứ của mình.
Trách nhiệm 'xây dựng lòng tin' đến từ lãnh đạo hay người dân?
Trách nhiệm ‘xây dựng lòng tin’ đến từ lãnh đạo hay người dân?
Yếu tố khác cũng được coi là rất cần cho việc hòa giải lịch sử là sự tin tưởng giữa các nước có hiềm khích. Tại diễn đàn an ninh Shangri-La, Singapore vào tháng 5 năm 2013, ông Nguyễn Tấn Dũng đã kêu gọi ‘xây dựng lòng tin chiến lược’ giữa các nước trong vùng.
Bài diễn văn ấy của Thủ tướng Việt Nam được khá nhiều người trong giới nghiên cứu cũng như quan chức nhiều nước khu vực đón nhận vì nó đề cập đến một vấn đề rất quan trọng trong việc hòa giải các xung đột quá khứ cũng như trong việc giải quyết các căng thẳng hiện tại giữa các nước trong vùng
Khi sang thăm Indonesia vào tháng 10 năm 2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng nói rằng Bắc Kinh ‘muốn xây dựng niềm tin chiến lược’ với Indonesia và các nước khác trong ASEAN.
Nhưng các động thái mạnh bạo của Bắc Kinh tại Biển Đông gần đây – như đơn phương đưa ra ‘đường chín khúc’ hoặc áp đặt vùng nhận dạng phòng không trên phần biển thuộc chủ quyền của Việt Nam và một số nước khác – và việc các nước khu vực quan ngại hành động ấy của Trung Quốc – cho thấy ‘niềm tin chiến lược’ đó chỉ tồn tại trong các diễn văn.
Điều kiện quan trọng khác – nếu không muốn nói là tối cần – để hàn gắn những vết thương quá khứ là các quốc gia từng có tranh chấp với nhau phải có cử chỉ, hành động chứng tỏ mình muốn thực tâm hòa giải, muốn chung sống hòa bình.
Một chi tiết quan trọng mà người dân cũng như giới lãnh đạo Việt Nam ít nhắc đến là trong Thế chiến thứ hai Nhật đã từng đô hộ Việt Nam và gây nên nạn đói 1945. Dư luận Việt Nam có thiện cảm với Nhật và phần nào hòa giải với Nhật về chuyện này vì từ khi chiến tranh kết thúc, Nhật không có một hành động gây hấn nào đối với Việt Nam và đặc biệt trong những thập kỷ qua đã có rất nhiều sự giúp đỡ, đặc biệt là về kinh tế, cho Việt Nam.
Trong khi đó, dư luận Việt Nam không mấy thiện cảm với Bắc Kinh và luôn muốn nhắc lại các xung đột quá khứ với Trung Quốc, như hải chiến Hoàng Sa 1974 và chiến tranh biến giới 1979, một phần cũng vì những những động thái mạnh bạo trên Biển Đông gần đây của Bắc Kinh.
Có thể nói, nếu thực tâm muốn hòa giải và chung sống hòa bình với Việt Nam và các nước làng giềng khác, chắc Bắc Kinh không mạnh bạo, hung hăng như thế.
Lướt qua như vậy để thấy rằng chuyện hòa giải những xung đột lịch sử ở Đông Á vẫn là một vấn đề nan giải. Các quốc gia trong vùng vẫn chưa muốn thẳng thắn và công tâm nhìn nhận, đánh giá lịch sử hay tỏ thiện chí hoặc có những cố gắng hòa giải xung đột trong quá khứ. Thái độ của Trung Quốc gần đây xem ra càng làm cho việc hòa giải ở Đông Á càng khó khăn hơn.
Hòa giải khó nhưng rất cần?
Châu Âu đã có hàng chục năm hòa giải sau hai cuộc Thế chiến
Châu Âu đã có hàng chục năm hòa giải sau hai cuộc Thế chiến
Dù đều cho rằng Đông Á cần có một sự hòa giải lịch sử như Đức, Pháp và các nước châu Âu đã từng làm, nhiều người trong giới nghiên cứu cho rằng một sự hòa giải như vậy rất khó xẩy ra ở Đông Á.
Khác với châu Âu, hầu hết các nước Đông Á đã từng bị thuộc địa và vì vậy chủ nghĩa dân tộc rất mạnh tại đây. Hơn nữa, không giống như các nước châu Âu sau Thế chiến thứ hai, hiện tại các nước Đông Á rất khác nhau về nhiều mặt, đặc biệt là chính trị, và đây cũng là một trở ngại khác cho việc hòa giải.
Một lý do khác thường được nêu ra là các nước châu Âu tiến hành hòa giải vì sau hai cuộc chiến đẫm máu, giới lãnh đạo và người dân châu Âu nhận ra rằng chỉ có hòa giải mới có thể tránh được những hậu quả tương tự trong tương lai. Trong khi đó, dù có xung đột và chiến tranh trong quá khứ, châu Á chưa phải đối diện một cuộc chiến nào tàn khốc như châu Âu đã từng trải qua.
Có người cũng nêu rằng đến giờ các nước Đông Á vẫn không thể hòa giải được xung đột quá khứ để có thể chung sống hòa bình vì khu vực này thiếu những nhà lãnh đạo có tâm, có tầm và đặc biệt dám can đảm lên tiếng xin lỗi – hay có những cử chỉ bày tỏ sự hối tiếc – về những sai lầm, tội ác mà các thế hệ lãnh đạo trước của họ gây nên.
Yếu tố nữa làm cho việc hòa giải giữa các nước Đông Á khó diễn ra là ngay trong một số quốc gia khu vực chuyện hòa hợp, hòa giải dân tộc vẫn chưa được giải quyết ổn thỏa. Chẳng hạn, khi chưa giải quyết được vấn đề Tây Tạng hay Tân Cương làm sao Bắc Kinh có thể tiến hành hòa giải với các nước trong vùng như Nhật hay Việt Nam?
Tuy vậy, dù cho rằng với điều kiện chính trị từng quốc gia và tình hình an ninh khu vực hiện tại, một sự hòa giải tương tư như châu Âu ở Đông Á rất khó – nếu không muốn nói là không thể – những ai muốn khu vực này ổn định, hòa bình đều cho rằng các nước Đông Á cần và nên tiến hành hòa giải những xung đột lịch sử.
Vì nếu không, căng thẳng và đối đầu giữa các nước khu vực vẫn cứ tiếp diễn và nguy hại hơn – như trường hợp châu Âu cho thấy – hiềm khích, hận thù và xung đột quá khứ ấy có thể là nguyên cớ đẩy đưa Đông Á vào các cuộc chiến trong tương lai.
Đoàn Xuân Lộc

Nguồn tin: lamhong.org

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thánh Anselmô - Quan thầy Hội SVCG Vinh

Thánh Anselmô - Quan thầy Hội SVCG Vinh
Năm Thánh Giáo Phận

Tin đọc nhiều trong tuần

Thành viên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 8

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 7


Hôm nayHôm nay : 404

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 21128

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4858563