07:19 ICT Thứ ba, 26/09/2017

DANH MỤC

Trang nhất » Tin Tức » Tài liệu học hỏi

Cầu nguyện cho những người quá cố

Thứ sáu - 01/11/2013 22:38
Cầu nguyện cho những người quá cố
Con muốn biết chỗ nào trong kinh thánh dạy chúng ta phải cầu nguyện cho người chết để các linh hồn được Chúa tha tội cho? Xin Quí Cha cho con câu trả lời.
Cầu nguyện cho những người quá cố
Kinh Thánh dạy cầu nguyện cho người qua đời.
 
 Kính thưa Quí Cha,
 Con muốn biết chỗ nào trong kinh thánh dạy chúng ta phải cầu nguyện cho người chết để các linh hồn được Chúa tha tội cho? Xin Quí Cha cho con câu trả lời.
Con thành thật cám ơn.
 
 Xin trả lời bạn,
 
Nếu muốn tìm một câu Kinh Thánh nói chính xác về việc cầu nguyện cho người chết, thì chúng ta chỉ có một câu duy nhất là 2 Mcb 12,46: Ông Giuđa Macabê “xin dâng lễ đền tội cho những người chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi”. Bản văn này diễn tả xác tín là việc cầu nguyện và lễ hy sinh đền tội thật sự đưa lại ơn tha thứ tội lỗi cho những người quá cố. Đây là chứng từ đầu tiên về niềm tin này.
 Tuy nhiên, để có một truyền thống cầu nguyện cho người quá cố, Hội Thánh còn dựa vào kinh nghiệm của ông Gióp, kinh nghiệm chuyển cầu để xin Chúa tha tội cho người còn sống: “Mỗi khi hết vòng tiệc tùng, ông Gióp cho gọi họ (= các con ông) đến để thanh tẩy họ; rồi ông dậy thật sớm, dâng lễ toàn thiêu cho mỗi người trong họ, vì ông tự nhủ: ‘Biết đâu các con trai ta đã chẳng phạm tội và nguyền rủa Thiên Chúa trong lòng!’” (G 1,5). Đây là một vài chứng từ rút từ Kinh Thánh. Tuy nhiên, các các thực hành trong đạo chúng ta còn được xây dựng từ truyền thống của Hội Thánh nữa (= Thánh Truyền).
Việc chuyển cầu cho người chết (cũng như cho nhau) thật sự có cơ sở vững chắc là niềm tin vào Đức Giêsu là Đấng đã chết và sống lại, cũng như từ việc chiêm ngắm gương sống của Người. Đức Giêsu đã chết và sống lại, như vậy có một cuộc sống sau cái chết, mà nhờ Người, chúng ta biết đó là nơi chúng ta sống thực. Rồi Hội Thánh thấy Đức Giêsu là tấm gương cho kinh nguyện chuyển cầu: “Người hằng sống để chuyển cầu cho họ” (Dt 7,25). Hội Thánh cũng ghi nhận những lời giáo huấn của các thánh qua dòng lịch sử, chẳng hạn thánh Phaolô đã khuyên “không tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng tìm lợi ích cho kẻ khác” (Pl 2,4; x. 1 Tm 2,1-2). Thánh nhân cũng cầu nguyện cho các giáo đoàn. Các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đã nhiệt thành chuyển cầu (x. Cv 12,5; 20,36).
Vì thế, ngay từ đầu, Hội Thánh vẫn kính nhớ người quá cố và cầu nguyện cho họ, đặc biệt trong thánh lễ, để một khi được thanh luyện, họ có thể hưởng nhan thánh Chúa. Hội Thánh khuyên chúng ta bố thí, làm việc hãm mình và nhường các ân xá cho những người đã qua đời (x. Giáo Lý của Hội Thánh Công giáo, số 1032).
Thân mến,
Lm PX Phan Long, ofm
 
 
 
Ba yếu tố “thần trí, tâm hồn và thân xác” trong 1 Thêxalônica 5,23
 

Kính chào Cha
 Xin Cha vui lòng bớt chút thì giờ vui lòng giải thích cho con được rõ về ba thành phần trong Tesalonica nhất chương năm câu hai mươi ba (I Te 5,23) đó là : tâm thần, tâm hồn, thân xác.
 
Xin trả lời bạn.
 
 Câu 1 Thêxalônica 5,23 là: “Nguyện chính Thiên Chúa là nguồn mạch bình an, thánh hóa toàn diện con người anh em, để thần trí (cha Nguyễn Thế Thuấn: “thần khí”), tâm hồn (NTT: “linh hồn”) và thân xác (NTT: thân xác) anh em, được gìn giữ vẹn toàn…”. Ba yếu tố “thần trí, tâm hồn và thân xác” có nghĩa là gì?
1.- Giải thích tổng quát “Thần trí” hay “thần khí” trong tiếng Hy lạp là pneuma (cũng có thể dịch là “tinh thần”); “tâm hồn” hay “linh hồn”, trong hy ngữ là psychê; “thân xác” trong hy ngữ là sôma. Có những nhà chú giải cho rằng thánh Phaolô nói đến ba phần tạo nên con người theo khoa nhân học. Nhưng ý kiến được chấp nhận nhiều nhất, là ba từ ngữ đó chỉ toàn thể con người dưới phương diện này hay phương diện khác. Và điều này đúng với khoa nhân học tiêu biểu của người Do Thái, trong đó “tinh thần” hay “thần khí” là con người hiểu như một thụ tạo; “tâm hồn hay “linh hồn” hiểu như là hữu thể có sự sống, và “thân xác” hiểu như là hữu thể có thân xác và có đời sống xã hội với những tương quan.
2.- Giải thích chi tiết
a) Từ ngữ Hy Lạp psychê (= “linh hồn”, “tâm hồn”; tương ứng với từ ngữ Do Thái nephesh): thánh Phaolô chỉ dùng 13 lần (4 lần trong thư Rôma). Hy ngữ cổ điển định nghĩa psychê là “cốt lõi chính yếu của con người, sẽ tách lìa khỏi thân xác chứ không tan rã với thân xác”. Từ đây có quan niệm linh hồn bất tử. Tuy nhiên, trong tư tưởng Do Thái, từ ngữ nephesh là chính là con người bên trong, như Sáng thế 2,7 nói. Thánh Phaolô dùng từ ngữ Hy Lạp psychê theo nghĩa của từ ngữ Do Thái nephesh: psychê là con người, hoặc là trung tâm sinh lực của con người.
b) Từ ngữ Hy Lạp pneuma (“thần trí”, “thần khí”, “tinh thần”, tương ứng với từ ngữ Do Thái ruah). Có nhiều đoạn thư trong đó khó mà phân biệt rõ là thánh Phaolô muốn nói về “tinh thần con người” hay “tinh thần của Thiên Chúa”, tức là Chúa Thánh Thần. Nhưng dù sao, số lần nói về tinh thần Thiên Chúa tức Chúa Thánh Thần vẫn nhiều hơn: trong số 146 lần dùng từ pneuma này, chắc chắn 100 lần nói về Chúa Thánh Thần và 19 lần nói về con người. Vậy trong các Thư của thánh Phaolô, “tinh thần con người” chính là chiều kích con người cho phép con người liên lạc trực tiếp hơn với Thiên Chúa.
 c) Từ ngữ Hy Lạp sôma (“thân xác” được dùng hơn 50 lần trong các thư chắc chắn của thánh Phaolô): Thánh Tông Đồ không bao giờ dùng từ ngữ này theo nghĩa là “một thi hài” (xác chết). Từ ngữ này đúng là một thân xác con người, hiểu theo nghĩa thể lý, nhưng có sắc thái tương quan: Sôma chính là con người, có thân xác, đang ở trong một môi trường nhất định; là phương tiện con người dùng để tương quan với môi trường này; là phương tiện để sống trong môi trường này. Nói tóm, sôma là “cái tôi” với thân xác, phương tiện nhờ đó cái “tôi” và thế giới có thể tác động lên nhau.
d) Có một từ ngữ nữa không có trong bản văn ở đây, nhưng xin nói đến để rộng đường suy nghĩ: Từ ngữ Hy Lạp sarx (“xác thịt”). Từ ngữ này được dùng 91 lần trong các Thư của thánh Phaolô, mà riêng thư Rôma đã có 26 lần. Trong tư tưởng Hípri, chỉ có một từ ngữ duy nhất là basar, thường có nghĩa là “xác thịt”, chứ không có một từ ngữ trực tiếp tương ứng với từ ngữ Hy Lạp sôma. Trong tư tưởng Hy Lạp, sôma và sarx, “thân xác” và “xác thịt” hầu như đồng nghĩa. Thánh Phaolô trung thành với tư tưởng Hípri dù viết bằng hy ngữ và lấy tư tưởng Hy Lạp mà làm giàu cho tư tưởng Hípri, đã phân biệt giữa hai từ này rõ hơn. Ngài thường dùng sôma theo nghĩa trung lập về luân lý, và dùng sarx với sắc thái tiêu cực về luân lý. Nếu ngài muốn dùng sôma với sắc thái tiêu cực, ngài sẽ dùng từ này với một túc từ kèm theo với nghĩa tiêu cực (chẳng hạn: “thân xác tội lỗi” trong Rm 6,6; “thân xác của cái chết” trong Rm 7,24…); còn sarx tự nó đã có nghĩa tiêu cực không cần một túc từ nào kèm theo. Nhưng có hai bản văn độc đáo trong toàn Khối Thư Phaolô, trong đó nối kết hai từ sôma và sarx với nhau, đó là Cl 1,22 (dịch sát: “thân thể xác thịt”) và Cl 2,11 (NTT: “thân mình xác thịt”): trong hai câu này, từ ngữ sarx được dùng như bổ ngữ cho sôma, để mạnh mẽ nêu bật tính thể lý trần trụi, sống sượng, của cái chết thân xác của Đức Giêsu.
Trở lại với ba thuật ngữ của 1 Tx 5,23, “thần trí, tâm hồn và thân xác” chính là toàn thể con người nhìn theo các phương diện khác nhau, hoặc “toàn thể con người” theo nghĩa tuyệt đối. Xin Chúa Kitô chúc lành cho bạn.
 Thân mến,
Lm FX Phan Long, ofm
 
 
 
 
ĐTC Phanxicô: Hội Thánh Tông Truyền Là Gì?
 
Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý ĐTC Phanxicô ban hành ngày 16 tháng 10 năm 2013 trong buổi Triều Yết Chung được tổ chức tại Quảng Trường Thánh Phêrô. Hôm nay ngài tiếp tục chu kỳ Giáo Lý về kinh Tin Kính và nói về đặc tính Tông Truyền của Hội Thánh.
“Hội Thánh là Tông Truyền vì được thiết lập trên lời cầu nguyện và lời rao giảng của các Tông Đồ, trên thẩm quyền đã được chính Đức Kitô trao cho các ngài. … và vì được sai đi để mang Tin Mừng đến cho toàn thể thế giới .”
 * * *
 Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Khi chúng ta đọc Kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng “Tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và Tông Truyền.” Tôi không hiểu anh chị em có khi nào suy nghĩ về ý nghĩa của cụm từ “Hội Thánh Tông Truyền” không. Có lẽ vài lần, khi đến Rôma, anh chị em đã nghĩ đến tầm quan trọng của các Tông Đồ Phêrô và Phaolô là những vị đã hy sinh cuộc đời để mang Tin Mừng và làm chứng cho nó ở đây.
Nhưng còn hơn nữa. Tuyên xưng Hội Thánh Tông Truyền nghĩa là nhấn mạnh đến mối dây liên hệ chủ yếu mà Hội Thánh có với các Tông Đồ, với nhóm nhỏ mười hai vị đã một ngày được Chúa Giêsu gọi đến với Người, Người đã gọi đích danh các ngài, để các ngài ở với Người, và Người sai các ngài đi rao giảng (Mc 3:13-19). Thực ra, “Tông Đồ” là một từ Hy Lạp có nghĩa là “được sai đi”. Một Tông Đồ là một người được sai đi, người ấy được sai đi làm một việc gì đó, và các Tông Đồ đã được Chúa Giêsu chọn, gọi và sai đi để tiếp tục công việc của Người, có nghĩa là, để cầu nguyện - là công việc đầu tiên của một Tông Đồ - và, thứ hai là để công bố Tin Mừng. Điều này rất quan trọng, bởi vì khi chúng ta nghĩ đến các Tông Đồ chúng ta có thể nghĩ rằng các ngài chỉ đi để loan báo Tin Mừng, để làm nhiều công việc. Nhưng trong những ngày đầu của Hội Thánh có một vấn đề bởi vì các Tông Đồ đã phải làm quá nhiều việc cho nên sau đó đã lập nên các phó tế, để các Tông Đồ có nhiều thời giờ hơn mà cầu nguyện và rao giảng Lời Chúa. Khi chúng ta nghĩ về những người kế vị các Tông Đồ, các giám mục, trong đó có Đức Giáo Hoàng, bởi vì ngài cũng là một giám mục, chúng ta phải tự hỏi rằng những ngưởi kế các Tông Đồ này có cầu nguyện trước và rồi mới rao giảng Tin Mừng không: đó chính là việc làm một Tông Đồ, và vì lý do này mà Hội Thánh là Tông Truyền. Tất cả chúng ta, nếu muốn thành tông đồ như tôi sẽ giải thích bây giờ, chúng ta phải tự hỏi: tôi có cầu nguyện cho ơn cứu độ của thế giới không? Tôi có rao giảng Tin Mừng không? Đây là Hội Thánh Tông Truyền! Đây là một mối liên hệ thiết yếu mà chúng ta có với các Tông Đồ.
Bắt đầu từ chính điều này tôi muốn nhấn mạnh cách ngắn gọn đến ba ý nghĩa của tĩnh từ “Tông Truyền” như được áp dụng cho Hội Thánh.
 1. Hội Thánh là Tông Truyền vì được thiết lập trên lời cầu nguyện và lời rao giảng của các Tông Đồ, trên thẩm quyền đã được chính Đức Kitô trao cho các ngài. Thánh Phaolô đã viết cho tín hữu Êphêxô: “Anh em là những người đồng hương với các thánh, và là người nhà của Thiên Chúa, được xây dựng trên nền móng là các Tông Ðồ và ngôn sứ, và chính Ðức Giêsu Kitô là đá tảng góc tường” (2:19-20), như thế ngài so sánh các Kitô hữu với những viên đá sống động tạo thành một tòa nhà là Hội Thánh, và tòa nhà này được xây dựng trên các Tông Đồ, như những cây cột, và tảng đá nâng đỡ tất cả là Chúa Giêsu. Nếu không có Chúa Giêsu thì không có Hội Thánh! Chúa Giêsu là cơ sở của Hội Thánh, là nền tảng! Các tông đồ đã sống với Chúa Giêsu, đã nghe những lời của Người, các ngài đã chia sẻ cuộc sống của Người, trên hết các ngài là những nhân chứng của Cái Chết và sự Phục Sinh của Người. Đức tin của chúng ta, Hội Thánh mà Đức Kitô muốn, không được thết lập trên một ý tưởng, không dựa trên một triết lý, mà được xây dựng trên Đức Kitô. Và Hội Thánh như một cây đã lớn lên qua nhiều kỷ nguyên; nó đã phát triển, đã sinh hoa trái, nhưng rễ nó ăn sâu nơi Người và kinh nghiệm cơ bản về Đức Kitô mà các Tông Đồ, những vị được Chúa Giêsu chọn lựa và được sai đi, đã có và đến với chúng ta. Từ cây nhỏ ấy đến thời đại chúng ta: Hội Thánh trong thế gian là như thế.
 2. Nhưng chúng ta hãy tự hỏi: làm sao chúng ta có thể nối kết với những nhân chứng ấy, làm sao những gì mà các Tông Đồ ở với Chúa Giêsu và nghe từ Người có thể đến với chúng ta? Đây là ý nghĩa thứ nhì của thuật ngữ “tính Tông Truyền”. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo nói rằng Hội Thánh là Tông Truyền bởi vì “với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần ngự trong mình, Hội Thánh bảo quản và truyền lại giáo huấn, ‘kho tàng tốt đẹp’, ‘những lời cứu độ’ mà Hội Thánh đã nghe được từ các Tông Đồ” (số 857). Qua các kỷ nguyên Hội Thánh gìn giữ kho tàng quý giá này, đó là Thánh Kinh, giáo lý, các bí tích, thừa tác vụ của các Mục Tử, để chúng ta có thể trung thành với Đức Kitô và thông phần vào sự sống của Người. Nó giống như một dòng sông chảy trong lịch sử, phát triển, tưới gội, nhưng dòng nước chảy luôn luôn vẫn là dòng nước khởi đầu từ nguồn mạch, và nguồn mạch đó là chính Đức Kitô: Người là Đấng Phục Sinh, Đấng Hằng Sống, và Lời Người không thể qua đi, bởi vì Người không qua đi, Người vẫn còn sống, Người ở cùng chúng ta ở đây hôm nay, Người nghe chúng ta và chúng ta thưa chuyện với Người và Người ở trong tâm hồn chúng ta. Chúa Giêsu ở với chúng ta hôm nay! Đây là vẻ đẹp của Hội Thánh: sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô ở giữa chúng ta. Chúng ta có khi nào nghĩ rằng hồng ân mà Đức Kitô đã ban cho chúng ta, hồng ân Hội Thánh, ở đó chúng ta có thể gặp Người, quan trọng thế nào không? Chúng ta có bao giờ nghĩ về việc Hội Thánh truyền đạt cho chúng ta sứ điệp đích thực của Đức Kitô như thế nào trong cuộc lữ hành dài của mình qua nhiều kỷ nguyên bất chấp những khó khăn, những vấn đề, những yếu đuối và tội lỗi của chúng ta không? Chúng ta có nghĩ rằng Hội Thánh mang lại cho chúng ta sự chắc chắn rằng những gì chúng ta tin thực sự là những gì Đức Kitô nói với chúng ta không?
3. Tư tưởng cuối cùng: Hội Thánh là Tông Truyền vì nó được sai đi để mang Tin Mừng đến cho toàn thể thế giới. Tiếp tục con đường lịch sử của cùng một sứ vụ mà Chúa Giêsu đã ủy thác cho các Tông Đồ: “Vậy, các con hãy đi giảng dạy muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ tuân giữ tất cả những gì Thầy đã truyền cho các con. Và nầy, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:19-20). Đây là điều Chúa Giêsu đã truyền cho chúng ta làm! Tôi nhấn mạnh khía cạnh này của hoạt động truyền giáo, vì Đức Kitô mời gọi tất cả mọi người “hãy đi” và gặp những người khác, Người sai chúng ta đi, yêu cầu chúng ta di chuyển, để mang niềm vui của Tin Mừng! Một lần nữa, chúng ta hãy tự hỏi: chúng ta có đang truyền giáo bằng lời nói, nhưng đặc biệt bằng đời sống Kitô hữu của mình, qua việc làm nhân chứng của mình không? Hay chúng ta là những Kitô hữu đóng chặt trong quả tim và trong các nhà thờ của mình, “các Kitô hữu trong phòng thánh”? Kitô hữu chỉ bằng lời nói, nhưng sống như người ngoại đạo? Chúng ta phải tự hỏi mình những câu hỏi này, đó không phải là một lời khiển trách. Tôi cũng thế, tôi cũng tự hỏi mình rằng tôi có là một Kitô hữu, một nhân chứng thực sự không?
Hội Thánh có nguồn gốc từ giáo huấn của các Tông Đồ, những chứng nhân đích thực của Đức Kitô, nhưng nhìn về tương lai, Hội Thánh ý thức chắc chắn rằng mình được sai đi – được Chúa Giêsu Kitô sai đi - là một nhà truyền giáo, mang Danh của Chúa Giêsu qua việc cầu nguyện, rao giảng và làm chứng. Một Hội Thánh đóng kín trong mình và trong quá khứ, một Hội Thánh chỉ nhìn đến những luật lệ nhỏ theo thói quen, theo thái độ, là một Hội Thánh phản bội bản sắc riêng của mình, một Hội Thánh đóng kín phản bội bản sắc của mình! Vì vậy, hôm nay chúng ta hãy khám phá tất cả các vẻ đẹp và trách nhiệm của việc là Hội Thánh Tông Truyền! Và hãy nhớ rằng: Hội Thánh Tông Truyền vì chúng ta cầu nguyện - nhiệm vụ đầu tiên - và vì chúng ta rao giảng Tin Mừng bằng đời sống và bằng lời nói của mình.

 
Cửa Nam - Sưu Tầm
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thánh Anselmô - Quan thầy Hội SVCG Vinh

Thánh Anselmô - Quan thầy Hội SVCG Vinh
Năm Thánh Giáo Phận

Tin đọc nhiều trong tuần

Thành viên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 47

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 46


Hôm nayHôm nay : 930

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 64050

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4829140